top of page

18 Bài tập về Cảnh quan/ 18 Reamls of Mound

Một thử nghiệm của Lê Tuấn Ry 

(English Below)

z7306308259337_2560959a9a740bc3bd4415083c215894.jpg

Thử nghiệm gồm 2 phần:

 

(A) Khối chủ thể: Một tác phẩm sắp đặt - chuyển động trong không gian kín, hình thành từ nhiều ngàn mảnh X-ray vô danh.

 

Kích thước: 9m x 12m, cao 3m 

 

Chất liệu: Phim x-ray cũ, kim băng công nghiệp, động cơ gắp thú. 

 

(B) Khối màn hình: Phần trưng bày tại Dogma collection, là một khối tạo hình đa chất liệu, chứa 18 thiết bị phát hình trực tiếp khối chủ thể (livestream), thông qua CCTV an ninh tại (A).

 

Kích thước: 1m x 2m2, cao 2m5 

 

Chất liệu: Màn hình rời cho xe oto, hộp nhạc, tàu dừa khô, gỗ cháy thừa, khung sắt tận dụng, nhôm định hình, nhựa đường, bột điệp, rèm nhung đỏ.

Về Cấu trúc: Tác phẩm là một thực thể kép, tồn tại song song giữa hai không gian tách biệt: 


*(A): Một căn phòng vô danh, vô tính và biệt lập. Dựa vào những đặc tính vật lý của chất liệu, sự mô phỏng về cảnh quan được tạo ra, tồn tại nhưng đồng thời bị che giấu. 


 

*(B): Tại không gian trưng bày, Phiên bản vật lý của sự mô phỏng về cảnh quan, tiếp tục rút gọt thành những hình chiếu trên màn hình CCTV. Hình bóng và khái niệm về cảnh quan biến thành các phiên bản của một sân khấu, một thế giới thu nhỏ (It’s a small world after all), nơi người xem quan sát và can thiệp vào cấu trúc thực tại (A) bằng thao tác vặn hộp nhạc.

 

CCTV ở đây không chờ đợi sự kiện xảy ra; nó liên tục tái tạo và góp nhặt thực tại. Bằng cách đó, nó kiến tạo nên một cảnh quan thứ ba - nằm giữa cái đang diễn ra và cái đang được nhìn thấy.

 

Về Chất liệu: Chất liệu chính kiến tạo nên khối vật thể tại (A) là hàng ngàn tấm phim X-quang thải loại. X-ray là đại diện trần trụi nhất của văn minh nhân loại. Mỗi tấm phim là bằng chứng về sự tồn tại của một người cụ thể, tại một thời điểm cụ thể, đã soi rọi vào bên trong cơ thể mình để tìm kiếm một điều gì đó, rồi vứt bỏ. 


 

Thông qua quá trình cắt nhỏ, phân rã và tái cấu trúc, những dữ liệu riêng tư ấy bị xóa bỏ căn tính. Chúng trở thành một khối vật chất vô danh. Mọi thứ trở nên bình đẳng như một nấm mồ; mọi công sức và hành vi dài dòng của đời người bị nén lại, trơ trọi và im lìm.

DOGMA_STREAM_1_20251126_230935 (1).png
DOGMA_STREAM_1_20251126_230935 (1).png

Khối sắp đặt biệt vị

Trái: Screenshot 18 màn hình tại không gian trưng bày (B)

 

Phải: Bản thể tác phẩm vật lý tại (A)

Đồng sản xuất: Đinh Thảo Linh

Đối tác Kỹ thuật, cơ điện tử: Vhitek, MuseumTechnik, Trương Nguyễn Minh Đăng, Nguyễn Đức An

 

Đối tác Thi công - vận hành: Scale50, Nguyễn Long Biên, Tom, Luu An, đội ngũ Dogma, anh Thanh.

 

Tập thể Studio LDS: Nguyễn Bá Ngọc, chị Nhã, chị Tuyết, Thảo My, Trường, Hằng Que

Ở lần thử nghiệm này, tôi thực hiện sự mô phỏng - dù có thể còn vụng về - về cách trí tưởng tượng vừa kiến tạo, vừa chối bỏ những dấu vết và hình ảnh thông qua góc nhìn; điều đã bồi đắp nên khái niệm "cảnh quan" trong nghệ thuật thị giác.

 

Trong hội hoạ truyền thống, cảnh quan thường gắn liền với góc nhìn và những quy ước. Loài người đã xác lập các phối cảnh một điểm tụ - hai điểm tụ đầy khoa học trong hội họa phương Tây, hay góc nhìn từ trên cao (bird view) với trong tranh sơn thủy Trung Hoa, từ bỏ kiến giải của con người bé mọn để hoà tan vào với đất trời. Góc nhìn đã tạo nên một hệ thống niêm luật chặt chẽ để định danh và tạo nghĩa cho các tác phẩm nói về phong cảnh, vượt ra khỏi chức năng mô phỏng thị giác thuần tuý.

 

Nhưng liệu một khung cảnh, khi đáp ứng đủ các niêm luật ấy, có hiển nhiên trở thành một tác phẩm về phong cảnh hay chứa đựng được hồn cốt của tự nhiên? Và ngược lại, một (hoặc một loạt) các màn hình được định danh là "bài tập cảnh quan", liệu có đủ sức ẩn dụ hay dẫn dắt liên tưởng về một tự nhiên phi vật chất giữa một thế giới vật chất hay không? Điều gì khiến "cảnh quan" ấy thực sự tồn tại để nhắc nhớ chúng ta về các đặc tính của tự nhiên nhưng đồng thời có quyền năng khước từ các khuôn khổ giúp định nghĩa chính nó? Trong lục pháp của Tạ Hách, khí vận sinh động đứng đầu, thiếu nó thì bức tranh chỉ còn lại sự mô phỏng những đặc tính thị giác mà con người quan sát được trong tầm mắt, chứ không thật sự đắm chìm trong một phần sự sống của bản thể tự nhiên - cái mục tiêu tối thượng của những bậc thầy mỹ thuật về phong cảnh. 


Trong các thực hành trước đây - bao gồm sắp đặt biệt vị (site-specific) và những nét vẽ nguệch ngoạc trừu tượng - các mục tiêu của tôi thường xoay quanh việc tái lập cảm giác quen thuộc của tự nhiên: hỗn độn của vũ trụ, cái im của bầu trời đêm, nước mưa, khu vườn,cái trĩu xuống của gốc cây. Dù đôi lúc hiếm hoi chạm được đến sự mô phỏng tương đối, phần lớn các thử nghiệm vẫn để lại cảm giác sơ cứng và cô độc. Bởi trong tự nhiên, cảnh quan không đứng yên; chúng biến thiên, xoay chuyển và rập rình trong từng sát na. 


 

Điều đó thúc đẩy một nhu cầu thử nghiệm mới: muốn thoát ra, đứng xa hơn, chồng chất lên một cảnh quan không thật (vốn dĩ đã là tưởng tượng), và sờ mó nó từ nhiều hướng như ông thầy bói mù, hòng định nghĩa một cảnh quan của riêng mình.

 

Với động tác vặn hộp nhạc, một cảnh sắc tương đối khác lại xuất hiện, phủ định sự sắp đặt nguyên thủy của người dựng ban đầu và cả người xem ngay trước đó. Đó là sự khước từ cấu trúc nhị nguyên cố hữu giữa người làm – người xem và bản thể của chính tác phẩm. Một bài tập về cảnh quan vô thường.

***

18 REAMLS OF MOUND

z7295922346722_3e55f210fb6a0b70e029b37b361a156e.jpg

The experiment consists of two parts:

(A) The Subject Mass: A kinetic, site-specific installation in a closed space, constructed from thousands of anonymous X-ray fragments.

  • Dimensions: 9m x 12m x 3m in height.

  • Materials: Old Xray film, industrial safety pins, claw machine motors.

 ​

(B) The screen mass: Exhibited at the Dogma Collection, conceived as a multi-material sculptural structure containing 18 devices livestreaming the Subject Mass via CCTV surveillance cameras installed in (A).

  • Dimensions: 1m x 2m2, 2m5 in height.

  • Materials: Car display screens, music boxes, water coconut fronds, charred wood, found steel base, aluminum profiles,asphalt, mother-of-pearl powder, red velvet curtains.

On Structure

The work exists as a dual entity, operating simultaneously across two separated spaces:

 

*(A): An anonymous, genderless, and isolated room. Based on the physical properties of the materials, a simulation of landscape is generated - one that exists and remains concealed at once.

 

*(B): Within the exhibition space, the physical version of that simulated landscape is further reduced into projections on CCTV monitors. The image and concept of landscape transform into versions of a stage, a miniature world—“It’s a Small World After All”—where viewers observe and intervene in the structure of reality in (A) through the act of winding a music box.

In this context, CCTV does not wait for an event to occur; it continuously reproduces and gathers reality. In doing so, it constructs a "third landscape"—situated between what is happening and what is being seen.

On Materiality

The main material forming the physical mass in (A) is thousands of discarded X-ray films. X-ray imaging stands as one of the most naked representations of human civilization. Each film is evidence of a specific person’s existence at a specific moment—a moment when they peered inside their own body in search of something, only to later discard the proof.

Through a process of cutting, deconstructing, and restructuring, these private data points are stripped of their identity. They become an anonymous mass. Everything becomes as equal as a grave; all the long-winded efforts and actions of a human life are compressed, left bare and silent.

 

DOGMA_STREAM_1_20251126_230935 (1).png
DOGMA_STREAM_1_20251126_230935 (1).png

Left: Screenshot of 18 screens at the exhibition space (B).

 

Right: The physical embodiment of the artwork at (A).

z7295925397355_7d631d72c48a271e4fe35154baa48608.jpg

CREDIT

 

Co-production: Đinh Thảo Linh.

Technical & Mechanical Partners: Vhitek, MuseumTechnik, Trương Nguyễn Minh Đăng, Nguyễn Đức An.

 

Constractors: Scale50, Nguyễn Long Biên, Tom, Luu An.​

Studio LCD Team: Nguyễn Bá Ngọc, Ms. Nhã, Ms. Tuyết, Thảo My, Trường, Hằng Que.

​In this experiment, I perform a simulation—perhaps a tentative one—of how the imagination both constructs and rejects traces and images through "perspective"; the very element that has built the concept of "landscape" in visual arts.

In traditional painting  landscape is often bound to perspective and conventions. Humanity established the scientific one-point and two-point perspectives of Western art, or the elevated "bird’s-eye view" of Chinese Shanshui (mountain-water) paintings, where the humble human perspective is abandoned to dissolve into the earth and sky. Perspective created a rigorous system of rules to identify and give meaning to landscape works, moving beyond purely visual mimicry.

 

Thus, does a scene, simply by satisfying these rules, naturally become a "landscape" or capture the soul of nature? Conversely, can a screen (or a series of screens) labeled as a "landscape exercise" sufficiently function as a metaphor for—or evoke—an immaterial nature within a material world? What allows such a "landscape" to truly exist, reminding us of nature's attributes while simultaneously possessing the power to defy the very frameworks that define it? In Xie He's "Six Principles of Chinese Painting," Qiyun Shendong (Spirit Resonance) reigns supreme. Without it, a painting is reduced to a mere simulation of visual traits observed by the eye; it fails to truly immerse itself in the living essence of nature—the ultimate goal of the great masters of landscape art.

In previous practices—including site-specific installations and abstract scribbles—my objectives often revolved around recreating the familiar sensations of nature: the chaos of the universe, the silence of the night sky, rainwater, the garden, or the heavy sagging of a tree trunk. Although I occasionally touched upon a relative simulation, most experiments still left me with a sense of rigidity and solitude. In nature, landscapes are never static; they fluctuate, shift, and pulse within every fleeting moment.

 

This prompted a need for a new experiment: a desire to break out, stand further back, to layer upon an unreal landscape (one that is inherently imagined), and to touch it from multiple directions—like the proverbial blind monk—in an attempt to define a landscape of my own.

With the act of winding a music box, a relatively different vista emerges, negating the original arrangement of both the creator and the viewer who stood there just moments before. This is a rejection of the inherent dualistic structure between the maker, the observer, and the essence of the work itself. It is an exercise in the impermanent landscape.

***

Graduated from Lasalle College of the Arts, Singapore with a Diploma in Fine Arts, majoring in Drawing.​

Like many young Vietnamese of my generation, I have also gone through what are often named as issues of personal identity, data overload, self-questioning of self-worth, experiences related to loss and possession, and other unnamed anxieties. Instinctive abstract practice once served as the most honest and intimate way for me to articulate profound questions about faith. Since late 2023, from a small room near Hanoi, I have been dedicating more time to expanding the multidimensionality of my works, both spiritually and physically. 

My primary conceptual objective for 2025-2026 is to continue mapping a personal creative schema structured around "Heaven – Earth – In-between." This framework allows me to navigate specific subjects and balance instinctive sensations by grafting meaningful traces and simulating personal imaginings onto the workspace. These traces consist of both fictional and authentic data—drifting unsystematically through books, newspapers, and the internet—ranging from motifs in Vietnamese mythology to predictions generated by Big data. I see myself as a child gazing at shimmering sand under the sweltering midday sun, gathering pebbles left by the many currents of fate that have surged across the earth.

Regarding the realization of the works, manipulating multi-material display surfaces requires me to try numerous processes while maintaining a sense of curiosity. Most recently, I have been learning about natural materials, practicing cooking wheat paste to partially replace industrial PVA glue in paper-based installations. In the Data module, collaborative requirements involving sound, programming motor control using Python, and placing experimental fragments into disparate spaces are also challenges that need to be pursued further.

Since first encountering the notion of “drawing as mark making,” I have often reflected on the line—from prehistoric cave drawings to footprints on the moon. I see my own existence within the vast, largely obscure expanse of this practice. Moving constantly between digital space and physical space, I want to learn how to trace the thread connecting an action to the hidden spiritual need behind it.

I will continue to expand and construct lawless fragments—where structures requiring no explanation coexist and overlap into a seemingly nihilistic expression—a place for me to hide and whisper meaningless manifestos about this precarious reality.

Tốt nghiệp Lasalle College of the Arts, Singapore , Diploma of Fine Arts, chuyên ngành Drawings.

 

Như những người trẻ Việt cùng thế hệ, tôi cũng trải qua các vấn đề được gọi tên như danh tính cá nhân, bội thực dữ liệu, tự vấn giá trị bản thân, các trải nghiệm liên quan đến mất mát và sở hữu hoặc những vấn đề không tên khác... Thực hành trừu tượng bản năng từng là cách giãi bày thành thật và riêng tư nhất cho những câu hỏi lớn về đức tin. Từ cuối 2023 tới nay, tôi dành nhiều thời gian hơn để gia tăng tính đa chiều của tác phẩm, về mặt cấu trúc tinh thần lẫn vật lý, trong một căn phòng nhỏ gần Hà Nội.

 

Trong năm 2025-2026, mục tiêu chính về tư duy là tiếp tục xây dựng sơ đồ sáng tác cá nhân theo cấu trúc “trên trời - dưới đất - ở giữa”. Sơ đồ này giúp tôi kiểm soát các chủ thể cụ thể, cân bằng các cảm giác bản năng, bằng việc cấy ghép bất kỳ dấu vết nào tạo nghĩa và giả lập những mường tượng cá nhân lên không gian tác phẩm. Các dấu vết này bao gồm các dữ liệu hư cấu hoặc xác thực, trôi nổi không hệ thống trong sách báo hoặc internet, trải dài từ mô típ trong thần thoại Việt Nam tới các tiên đoán của dữ liệu lớn. Tôi như đứa trẻ nhìn vào dải cát lấp lánh giữa trưa hè oi ả, nhặt nhạnh viên sỏi sót lại ven bờ của nhiều dòng chảy số phận từng cuộn trào trên mặt đất.

 

Về mục tiêu thực hiện tác phẩm, việc thao tác với các loại bề mặt hiển thị đa chất liệu, yêu cầu tôi thử nhiều quy trình nhưng vẫn giữ nguyên sự tò mò. Gần đây nhất là tôi học về các chất liệu tự nhiên, tập nấu hồ tinh bột (wheat paste) để thay thế một phần keo PVA công nghiệp trong các sắp đặt về giấy. Hay trong module Data, các yêu cầu hợp tác về âm thanh, lập trình điều khiển động cơ bằng ngôn ngữ Python, đặt các mảnh thử nghiệm vào các không gian dị biệt, cũng là các thử thách cần thực hiện tiếp.

 

Từ lần đầu biết tới quan điểm “vẽ như hành vi ghi dấu” (drawing as mark making), tôi thường suy nghĩ về nét vẽ trong hang động tiền sử tới vết giày trên mặt trăng. Tôi nhìn thấy sự tồn tại của mình, trong khoảng không rộng lớn, tuy phần lớn là mờ mịt, của thực hành này. Di chuyển liên tục giữa không gian digital và không gian vật lý, tôi muốn học cách lần mò sợi dây nối giữa hành vi và nhu cầu tinh thần ẩn sau nó.

 

Tôi sẽ tiếp tục cơi nới và xây dựng những mảnh vỡ không luật lệ, nơi những cấu trúc không cần lý-giải tồn tại song song, đan cài chồng chéo thành một diễn đạt có vẻ hư vô, cho tôi ẩn nấp và thầm thì những tuyên ngôn vô nghĩa về thực tại bấp bênh này

bottom of page